ĐIẾU VĂN

ĐIẾU VĂN TƯỞNG NIỆM
CỐ TRUNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN THIỆU-
TỔNG THỐNG VIỆT NAM CỘNG HÒA

(Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu(1923-2001) Tổng Thống Việt Nam Cọng Hòa, tạ thế ngày 27 tháng 9 năm 2001 tại thành phố Boston ,tiểu bang Massachusetts – Hoa Kỳ,hưởng thọ 78 tuổi.)

DUY!
Hoa Kỳ Quốc, Oregan Tiểu Bang, Porland Thành phố.
Tuế Thứ: Tân Tỵ niên (2001) Thập nguyệt, nhị thập nhật

Kim Vì: Huynh đệ chi binh, nghĩa tử nghĩa tận.
Chúng tôi Hội Cựu Quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đang sinh sống tại Tiểu bang Oregan và thành phố Vancouver Tiểu bang Washington. Cung trần thiết lễ Tưởng Niệm Cố Trung Tướng NGUYỄN VĂN THIỆU, Cố Tổng Thống Nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam.

Cẩn dĩ: Kim ngân, hương hoa thanh chước, thứ phẩm chi nghi, cảm chiêu cáo vu.
VIẾT!

Hỡi ôi!
-Thương quá, chim Việt đậu cành nam, vọng quê cha, thăm thẳm nghìn trùng núi khuất.
Xót thay, ngựa Hồ hí gió bắc, vời đất mẹ, mịt mù bốn bể mây che.
-Dẫu đã biết, sinh tức ký tử tức quy.
Nào hay đâu, tới một đường lui một lối.

Nhớ Linh xưa!
-Rạch kiếm cung một thời, đã tỏ chí nam nhi, bao phen vào sinh ra tử.
Gánh non sông mấy thuở, cũng lo toan vận nước, lắm lúc cát lẫn bụi lầm.
-Bởi trời tạo nhiều cơ, mưa dập gió dồn, nên dễ gì định lối.
Do đất bày lắm nỗi, sóng vùi cát lấp, âu cũng khó tìm đường.
-Có phải ” Thời lai đồ điếu thành công dị”
Hay là “Vận khứ anh hùng ẩm hận đa”.

Thương ôi!
Chiếc thuyền nan giữa dòng bão tố
Lả tay chào bến đổ nơi đâu
Bao năm khanh tướng công hầu
Cũng nhiều vinh nhục, tủi sầu khổ đau
Người dưới trướng vàng thau lẫn lộn
Bao kế sách chỉnh đốn liên hồi
Đồng minh chót lưỡi đầu môi
Đang thời giao chiến nửa vời bỏ ngang
Làm trăm họ bàng hoàng lánh nạn
Cả ba quân súng đạn buông tay
Cơ đồ giây phút đổi thay
Giang sơn chao đảo, gió lay bão tràn
Khắp mọi nơi cơ hàn vất vả
Người qua đời mồ mã không yên
Giáo đường, Phật tự, Tổ tiên
Cũng đều hệ lụy, nghiệp duyên buộc ràng.

Giờ này đây đôi đàng vĩnh biệt
Cả chúng tôi khôn xiết xót thương
Trải qua ngày tháng đoạn trường
“Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng”
Riêng phần việc luận công hay tội
Để sử gia kiểm phối phê bình
Chúng tôi đối với anh linh
Tấc lòng huynh đệ chi binh mặn nồng
Cả Bắc -Nam mắc vòng kiềm tỏa
Bao oan khiên nghiệt ngã chất chồng
Hơn thua, vinh nhục, thành công
Bao nhiêu suy nghĩ, đau lòng bấy nhiêu.

Giờ tưởng niệm lắm điều nhung nhớ
Hỡi anh linh đang ở nơi nao?
Bình Long, Quảng Trị, miền cao
Chiến công vang dội, khác nào riều dâng
Hay xao xuyến bâng khuâng chốn cũ
Nơi đầu rồng, dinh phủ ngày xưa
Đêm đêm dỏi ánh sao thưa
Thương bao chiến hữu, nắng mưa dãi dầu
Hay thơ thẩn bên cầu Thượng Phước
Thương quân dân thuở trước rút lui
Bảy hai (1972) lửa đạn dập vùi
Sinh ly tử biệt, ngậm ngùi xót xa
Hay lặng ngắm Đông Ba,Thành Nội
Hận lũ người gây tội Mậu Thân
Làm cho bao kẻ lìa trần
Không ai hương khói, mộ phần nơi đâu
Hay nhỏ lệ đầu cầu Quảng Trị
Thương chiến binh bền bỉ đêm ngày
Hy sinh cho ngọn cờ bay
Trên thành Công Tráng, trong ngày Trọng Thu
Hay đến chốn lao tù cải tạo
Zét ba mươi (Z30) Cây Gáo, Huy Khiêm
Chắc rằng thấu hiểu nỗi niềm
Bại binh phải chịu bao niên cực hình.

Ôi! Thôi Thôi!
Quốc phá gia vong thiên kỷ hận
Sinh ly tử biệt bách niên sầu
Trải qua một cuộc bể dâu
Lệ tràn bể cả, thành sầu non cao.

Than ôi!
Nghĩa tình xưa nao nao tấc dạ
Hỡi anh linh đôi ngã âm dương
Thân tằm tất phải tơ vương
Niềm kia nỗi nọ, trăm đường ngổn ngang
Dù nghèo khó cao sang cũng vậy
Cầu Nại Hà ai nấy đều qua
Kim ngân thanh chước hương hoa
Với bao thương tiếc, lệ nhòa tiển đưa
Còn sự thế trước sau sẽ rõ
Ai bán dân, ai bỏ giống nòi
Có vầng nhật nguyệt sáng soi
Sử xanh ghi chép hẳn hòi phân minh
Tình huynh đệ chi binh thắm thiết
Trải bao đời khôn xiết thâm sâu
Làm sao nén nỗi dòng châu
Bên bờ ly biệt, bên cầu âm dương
Hỡi anh linh xét thương lắm nỗi
Đã ra đi bỏ cội bỏ nguồn
Bỏ làng bỏ bản bỏ buôn
Bỏ bao năm tháng, đau buồn nhớ nhung.

Giờ tưởng niệm vô cùng thương tiếc
Hỡi anh linh vĩnh biệt từ đây
Xa xăm trong cõi trời mây
Nguyện cầu thanh thản, lòng đầy thương yêu
Phò trì dương thái âm siêu
Việt Nam Tổ Quốc gặp nhiều hanh thông.
Phục Duy Thượng Hưởng

Cẩn Cáo!
Đồng bái biệt!

Chiến hữu TRẦN QUẢNG LƯỢNG
(Cẩn Bút)
30/9/2001

This entry was posted in Thơ, Văn Học and tagged . Bookmark the permalink.

Comments are closed.