Phạm Thành

 
30 Tháng 4 !
Ký ức một người chưa làm lính.
 
Từ ngày 25 , lính Nhảy Dù đã có mặt nhiều trên các tuyến đường vùng Hố Nai  Biên hòa . Vùng đất  mấy tháng trước chỉ có mặt các đơn vị Biệt Ðộng Quân và Suy đoàn 18 Bộ Binh cùng các đơn vị Ðịa phương Quân. Hai ngôi làng quê  tôi  vốn là hai giáo xứ  Công giáo . Giáo xứ Lộ Ðức còn gọi là Lai Ổn , qui tụ đại đa phần là dân  công giáo di cư gốc gác … từ tỉnh Hòa Bình Bắc Phần. Giáo xứ Ðông Hải (1970 đặt lại tên mới là Ðông Vinh , do ý  của  linh mục Ðặng duy Hòa , một vị linh mục  không nằm trong danh sách các vị tiên khởi thành lập hai xứ đạo  hẻo lánh này ) . Tôi là giáo dân xứ Ðông hải có tên làng  từ thủa xa xưa còn giữ lại là Ðồng Lách vốn là một ngôi làng  gần như đã bỏ  hoang từ lâu  trưóc khi  các giáo dân  công giáo  từ tình Bắc Ninh , Kiến an Hải Phòng và  Kẻ Sặt  Hải Dương dắt díu nhau vào  lập làng với lũy tre , suối hào và dày đặc  hàng rào ấp chiến lược .
 
Chiến cuộc đã  ập đến  sát với chúng tôi . Ngoài quốc lộ 1  đoạn cây số  9 tính từ thị xã Biên hòa ra phía bắc , các trường học đã đóng cửa , các trại tạm cư mọc lên  khắp các sân trường trung tiểu học, bệnh viện Thánh Tâm và các   sân các nhà thờ . Ðồng bào ngoài miền trung lũ lượt  kéo rồng rắn  vào Sàigòn và bị dồn ứ lại  bắt đầu từ Tam Hiệp trên xa lộ Biên Hòa . Giáo xứ Lạc An , một giáo xứ sát  viền rừng chiến khu Ð nhất đã phải tháo chạy ra  các xứ  ở vùng Hố nai để tạm trú . Từ chiến khu D đã có đạn pháo cối ùng ục dội vào phi trường Biên Hòa , đường đạn  bay qua làng tôi những  buổi mờ sáng  khét lẹt .  Loại đạn cối này  cho chúng  tôi hiểu là thế thượng phong của lính  cộng sản chính qui miền bắc đã  hiện  lên rõ rệt , vì  thông thường  như từ bốn năm năm nay , pháo kích từ viền chiến  khu Đ vào phi trưòng Biên hòa  hoàn toàn là bằng  hỏa tiễn , loại pháo giàn ,phóng hàng loạt  vài chục qủa pháo  hỏa tiễn trong  chỉ  phút  đồng hồ.  Sau đó là trực thăng  từ phi trường Biên hòa lên quần thảo  nhưng đương nhiên là không còn dấu tích gì nơi vách  rừng chiến khu D , cách làng tôi chừng 4, 5  km . Nghe  tiếng pháo cối  dội  vào làng , nhìn hàng đoàn  lính rằn ri màu xanh trắng đóng các chốt quanh làng và ngay giữa con đường  chính , thày tôi  nói với cả nhà .
 
–          Thu gom  gọn nhẹ những thứ cần thiết  để chạy loạn .
 
Mẹ tôi  hỏi lại .
 
–          Giờ chạy đi đâu bây giờ ? Ðây chỉ cách Sài gòn  có hai giờ xe máy .  Sau Sài gòn là  bể rồi , đi làm sao được ?
 
–          Cứ thu xếp  để đi .  Ðến đâu  biết đến đấy . Ra biển cũng đi …
 
Thày tôi  vừa nói vừa  lẩm nhẩm đọc kinh. Tôi dáo dác  nhìn mẹ  . Mẹ tôi  lật đật thu gom mớ quần áo . Bà lọng cọng nhấc  cái này  bỏ cái kia , cuối cùng  cũng xong  ba  cái bao  vải lính của quân đội Pháp mà thày tôi  còn giữ lại từ 1954.
 
Ngày 26 .Lính Nhảy Dù  hai người một  hai người một  khệ nệ  khiêng  rất nhiều mìn chống tăng về phía cuối làng , cách nhà tôi chỉ  năm phút đi bộ . Mìn được đặt cấp tốc  rất nhiều dọc theo những tuyến  ruộng mà muốn đi vào  làng để ra quốc lộ 1 , bắt buộc các xe tăng  phải cưỡi lên  những  cung  đường ruộng ấy.  Công sự phòng thủ được cật lực đào đắp khắp những địa điểm trọng yếu .
 
Có tin  Quân cộng sản sẽ được quyền làm chủ tính từ bên này  sông Sài gòn , tức cầu Sài Gòn sẽ là điểm phân ranh . Thày tôi  thay đổi ý định . Ông bảo chị tôi  thuê một xe tải để chở hết  thóc gạo chạy loạn. Thuê xe tải lúc này là điều vạn nan nhưng  chị tôi có quen biết một gia đình có xe tải và cũng cần chạy loạn  vào Sài gòn  nên ý định của thày tôi đã được thực hiện  ngay sáng 27 . Tất cả thóc lúa đã đóng bao sẵn  được chất lên chiếc xe vận tải  . Ðây vốn là thóc lúa mẹ tôi làm hàng sáo , đợt thóc đang chuẩn bị đem đi chà ở một nhà máy  gần Biên hòa  có tên là Chợ Ðồn .
 
Chiều 27 , các dàn pháo hỏa tiễn và pháo cối của lính chính qui  bắc Việt nã đạn vào phi trường Biên hòa cực kỳ ác liệt . Làng tôi mịt mù khói pháo của hai phía bắn qua bắn lại. Trực thăng đã có vẻ rất e dè , bay thường là hai ba chiếc cặp kè nhưng  không còn  chúi sát xuống rừng  phiá Lạc An , Ðại An  và Trị an  nữa. Hôm 26 một  phi cơ đã bị hỏa tiểm Sam bắn cháy  ,rơi cắm xuống  sông  Ðồng nai đoạn thượng nguồn  , xã Ðại An !
 
Mẹ tôi  cùng  thóc lúa đã ra  ngoài  quốc lộ , đậu gần nhà thờ Kẻ Sặt và Ðại Lộ , đoạn cây số 7 Quốc lộ 1. Ở nhà còn có tôi và thày tôi . Hàng xóm đã  di tản hết . Thày tôi quyết định ở lại cố thủ sau khi  linh mục Nhật đi một vòng làng từ bên giáo xứ Lai Ổn  sang . Ông hỏi  từ phía  con đường sau nhà tôi .
 
–          Ông Năm còn ở nhà không ?
 
–          Ôi  , cha ơi , sao giờ này cha còn ở đây ?
 
Thày tôi nói rất lớn  mới vọng tiếng ra  tới  con ngõ   bìa làng ấy . Ông có vẻ rất xúc động . Tiếng linh mục Nhật  vọng lại .
 
–          Sao lại bỏ đi cả thế này ?
 
–          Cha Hòa đi rồi ạ !
 
Thày tôi  nói về việc linh mục Ðặng duy Hòa đã rời  giáo xứ đi từ  hàng tuần trước . Ðồng bào công giáo di cư bắc Việt thường trông vào  vị linh mục chăn dắt  mình mà hành động .
 
–          Ði đâu bây giờ ! Phải giữ làng chứ . Còn đi  đâu được nữa mà đi .
 
–          Thế thì con cũng ở lại .
 
–          Ừ , cha cũng ở lại đây . Ðào xong  trăng- xê rồi  .
 
 Thế là thày tôi quyết định không  bỏ đi . Tôi  vơ nhanh cái xẻng  chạy ra  hiên nhà  đào  cái hố cá nhân hình chữ L  , ba con chó  lăng xăng  cào cào bơí  bới khi thấy tôi đào  cật lực. Thày tôi đào  một hầm  phía sau nhà , có chận  nắp bằng những bao cát và  gỗ vuông chắc chắn . Hố đào sắp xong  thì một  ông lính  đến  bên cạnh  sân nhà tôi , hỏi vọng vào .
 
–          Bộ muốn tử thủ  hả ?
 
Tôi đáp  «dạ»  , vừa đáp vừa lúi húi đào . Người hạ sĩ quan này chơi đàn guita rất hay , thường ngồi trước sân nhà tôi mỗi tối vừa đàn vừa hát . Ông hỏi thêm khi thấy thái độ của tôi là thái độ muốn «chơi tơí cùng» .
 
–          Súng ống gì không thằng em ?
 
–           Dạ , Cạc –bin .
 
Ông ta phá ra  cười ngặt nghẽo  rồi hỏi .
 
–          Biết chơi M16 không ?
 
–          Dạ biết .
 
–          Vậy để lát  tụi anh đưa  cho . .. chớ  ba cây cạc –bin chơi sao nổi .
 
 Ðúng lúc ấy , trên đường có bốn năm người lính Nhảy dù thúc súng  đẩy một bóng người đàn ông  bước  sâm sấp trên đường cái dẫn về phía cuối làng . Tôi  chợt dưng sởn tóc gáy . Năm Trình ! Ông Năm Trình tay bị trói giật khuỷu  , chiếc áo đen  đẫm máu . Chắc chắn kiểu này là ông Năm  sẽ bị bắn ! Tôi bỏ  xẻng bỏ cuốc  , lặng lẽ bước theo sau bốn năm người lính và ông Năm Trình.
 
Ông bước thấp bước cao đi theo hướng mũi súng  của mấy người quân nhân mặc đồ rằn ri. Khoảng  chừng 500 mét  tính từ cổng cuối làng , những người lính Nhảy Dù nơí dây  trói rồi bảo ông Năm Trình tự bắn  mình sau khi đưa cho ông khẩu súng M16 chỉ có một viên đạn . Ông lắc đầu , qụy hai gối xuống bờ ruộng . Hoàn toàn không thấy ông nói một lời nào , mắt nhìn về hướng ngọn núi Chùa phía gần bờ sông Lạc An Trị an . Mấy ngưới lính lùi lại  cách ông chừng  5 mét . Hai ngươì cầm súng  cúi gập mình  như chào ông Năm Trình . Khi hai cái đầu hất  thẳng lên  là đồng thời với một tiếng nổ chát chúa . Thân thể ông Năm giật lên  rồi té sấp . Hai người lính cúi mình một lần nữa rồi quay  lui , không kiểm tra  xem ông Năm đã chết hẳn hay chưa . Thấy tôi còn đứng lần khân  gần đó , một ngươì bảo .
 
–          Về thôi thằng em . Nó pháo bá thở bây giờ !
 
Tôi tần ngần  , rất muốn  đến xem ông Năm  đã chết  thật chưa .  Cái dáng té sấp mặt của ông  xuống mặt ruộng làm tôi  xao xuyến  lạ lùng.  Bỗng tiếng quát phía sau  như dựng cả hồn vía tôi dậy .
 
–          Nằm xuống ! Thằng nhóc !
 
Tôi còn đang quờ quạng  thì một bóng người  nhào đến gần tôi , một tay  ôm ngang lưng vật tôi xuống bờ ruộng , đúng lúc  hàng ngàn tiếng rít  đinh tai nhức óc  xẹt ngang qua đầu . Chưa bao giờ tôi ngửi thấy mùi  thuốc đạn  gần và nhiều đến như vậy ! Một dàn pháo hỏa tiễn vừa bắn đi  sát ngay phía đồi chuối bên bìa làng , tầm đạn bay qua đầu chúng tôi nhắm lên đồi Pháo binh , sát bên  nhà thờ Lai Ổn . Ðường đạn đi vun vút muốn rách màng tang.
 
Người lính vật tôi xuống chính là người hạ sĩ quan ban nãy bảo đưa cho tôi câyb  M16 . Dưới làn khói pháo mù  đặc , ông  túm  áo tôi kéo  chạy về đầu làng , vừa chạy vừa  gào  bên tai tôi .
 
–          Coi chi ba chuyện giết người  vậy thằng em !
 
–          Em biết ông ấy !
 
–          Quên đi ! Chiến tranh  là vậy ! Sống nay chết mai .  Ta không giết người thì người giết ta !
 
–          Mà sao  bắn ông ấy . Sao không nhốt lại ?
 
–          Giờ này , đến tụi mình còn không biết sống  hay chết đêm nay , nói chi đến ổng .  Số chả phải chết  trước  thôi …
 
Tôi và  người lính Dù về đến  nhà , ông bỏ đi về phía nhà thờ  , nơi đặt Bộ chỉ huy tiền phương  của lính Dù . Trên gờ hố cá nhân  một cây M16 bốn băng đạn , ba trái lựu đạn mini móc  ở một dây ba chạc . Tôi ráp  đạn kéo chốt cho bật ra ba bốn  viên  rồi lại tháo băng  xếp lại đạn , cài chốt an toàn , ngồi vật  ra , đầu đầy ắp hình ảnh ông Năm Trình với khuôn mặt úp sấp lên mặt ruộng .Mặt ruộng tháng tư  khô nứt nẻ !
 
Ông bị bắt đâu hồi 11 giờ trưa . Hai cái làng này , ai cũng biết là ông hoạt động  cho Mặt Trận  Giải Phóng Miền Nam , nôm na  gọi là Việt Cộng nằm vùng. Ông  không  tỏ ra ác ôn bao giờ . Ông dữ hay ông hiền , chẳng ai biết được  vì ông không sống trong làng . Ông cất một cái chòi sát chân núi Chùa , nơi được coi là cửa ngõ để giao liên với trong  bưng ,lâu lâu đi vào làng mua  dăm thứ lặt vặt  hoăc  đi qua làng ra  vùng Hố nai , ông từng bị  cảnh sát Quốc gia bắt nhiều lần .Trưa nay ,  từ  vọng canh  rất cao của Ấp Chiến Lược , những người lính địa phương đã nghi ngờ khi ông từ lối rừng núi Chùa đi thẳng vào đường làng . Những bước đi mang nhiều sự tần ngần . Từ rừng đi vào làng rồi đi qua  khu trung tâm Bộ chỉ huy  Tiểu đoàn tiền phương của sư đoàn  Dù , hướng ra quốc lộ  Một . Có lẽ người ta sẽ để cho ông đi  ra phía quốc lộ nếu như ông giữ  con đường bình thường ấy . Ðàng này  ông lại quay trở lại bằng một ngõ xóm khác , sau khi đi qua  Bộ chỉ huy  Trung đoàn chừng 300 mét . Ông bị bắt . Bộ chỉ huy Tiểu đoàn Dù gọi Ban  an ninh Ấp , lúc ấy trưởng ấp tên là Thái vẫn còn bám làng . Ngoài việc hỏi ông Thái  bên bộ chỉ huy Tiểu đoàn còn hỏi bốn năm người khác .  Ai cũng nói là ông Năm Trình từng  được biết là một cán binh cộng sản nằm vùng . Với kinh nghiệm trận mạc , bên Bộ chỉ huy kết luận dứt khoát ông Năm Trình  là một «đề – lô », tức người có nhiệm vụ đặt  tọa độ  cho  đơn vị pháo ! Thời cuộc  đang nóng lên từng phút ! Mặt trận Xuân Lộc  nghìn cân treo sợi tóc ! Số ông Năm Trình  rơi vào tuyệt lộ ngay khi  ngày chiến thắng của những người bên phía ông  chỉ còn  hơn 48h đồng hồ !!
 
 Tiếng xe Honda  cua rất gấp từ mặt đường quặt vào trong sân  si măng . Mùi khét của  cao su từ lốp xe bốc lên hòa với  khói pháo thật khó chịu. Ðó là xe của anh tôi . Tôi chưa thấy  ông chạy như thế này bao giờ  .
 
Vừa chống  càng xe anh tôi quát ngay .
 
–          Thày đâu ?
 
–          Thày  ở sau nhà   – Tôi luống cuống .
 
–          Sau nhà làm gì ?
 
–          Ðào hầm !
 
–          Ðào cái con khỉ  gì mà đào !
 
Quay nhìn tôi , nhìn mớ súng đạn lỉnh kỉnh . Ông  gắt .
 
–          Ðồ dở hơi ! Mặc ngay quần áo vào . Ði !
 
Bố  tôi rất  nể  anh tôi , nên  đang lấm lem  là thế , anh tôi yêu cầu  tắm rửa để chạy là bố tôi kéo nước giếng tắm  ngay .Chừng chưa đến 5 phút , ba cha con tôi đã trên chiếc xe Honda 67 . Anh tôi mặc đồ bay ,mũ canô nghiêm chỉnh, cũng là lần đầu tiên ông đeo súng tòn ten  bên hông . Chiếc Honda nhấc đầu phóng đi  với ba con  chó chạy theo sau . Bàu trời kĩu kịt khói pháo . Ðàng sau là những đôi vai gồng  vác của những người lính Dù đang tất bật  với những hố công sự chiến đấu . Ðâu đó  , những bàn tay  giơ lên đầu  , có lẽ  để chào  anh tôi , người phi công lạc lõng nơi chiến địa trong những giờ phút dầu sôi lửa bỏng  gần như cuối cùng  của một trận  chiến đang ở những phút khởi đầu tràn ngập sát khí  .
*
Quốc lộ 1 cơ man nào là người ! Ðủ mọi thứ xe . Từ máy cày máy kéo bám đầy bụi đất đỏ của vùng Gia Tân Gia Kiệm Long Khánh Túc Trưng đến  xe lam  xa ba gác ! Từ người đi bộ  đến người  thồ xe đạp . Từ ông già bà cả đến em thơ ! Từ những  khuôn mặt cháy nắng đến  những đôi môi nứt nẻ trên những khuôn mặt  thiếu nữ xuân thì . Tất cả đều xốc xếch ! Tất cả đều thảm thương ! Tất cả  như một đoàn người ma  đi tìm thiên đường  nơi xa lắc ! Tuyệt không một tiếng cười trong đoàn người mênh mông ấy .
 
Anh tôi lạng lách , lúc  đâm ngang , lúc xiên dọc , lúc leo bờ lúc thúc xe . Tôi nhìn đoàn người chung quanh , chỉ sợ những con chó của tôi  bị thất lạc . Nhưng không . Có lẽ chúng  cũng đã bị cộng hưởng  với hoàn cảnh  hoang mang cực độ của  hàng triệu con người đang  trong giờ cùng quẫn bi thảm . Chúng bám sát bên hông xe , miệng thè lưỡi  nhọc mệt vừa chạy vừa nhìn bố con tôi . Ánh mắt chúng  như  nói lên sự van xin đừng bỏ chúng , lại như khuyến khích bố con  tôi đừng sợ hãi . Thấy tôi  có vẻ nhì nhằng với mấy con chó , anh tôi bắt đầu bực .
 
–          Mày  làm ơn  ngồi cho ngay ngắn . Chó nó tự biết theo .
 
Tôi ngồi  trên bình xăng  vì thày tôi  ôm nguyên một cái túi lính tây   chứa toàn những ảnh tượng chúa  và những bản tưởng  niệm mà giáo hội đã  ân thưởng cho ông . Tôi biết anh tôi  rất khó lái vì tôi 15 tuổi nhưng là dạng cao lớn hơn bình thường, ngồi lại quay trước  quay sau  vơi mấy con chó  nên ông  quạu cũng là phải . Dù bị ông  quát  nhưng  lòng tôi rất  biết ơn ông , vì ông  biết tôi  rất thương chó  nên  lúc  bắt đầu rời nhà  , tôi gọi chó theo mà ông  không  phản đối . Ông biết tôi rất khó để có thể xa  chúng …
 
Chỉ có 2km quốc lộ từ nhà thờ giáo xứ Hòa Bình đến nhà thờ giáo xứ Hà nội mà bố con tôi vật lộn  hơn  tiếng  với rất nhiều lần phải đâm vào những  đường ngang ngõ tắt . Ðến nhà thờ Ðại Lộ là leo lên xe khởi hành nhằm vượt cầu Sài gòn ngay . Trên xe , ba con chó và tôi  nằm gọn  ngay góc cửa đóng  phía cuối xe . Mẹ tôi  và chị tôi  bên cạnh thì thào câu được câu chăng .
 
–          Mẹ có vàng  thì đưa con giữ  cho .
 
–          Mẹ làm gì có vàng  .
 
–          Thế tiền buôn bán đâu hết rồi ?
 
–           Lời lãi bao nhiêu , thày mày  biếu các cha hết cả !
 
–           Ðúng là lẩn thẩn . Giờ  thiếu thốn thì biết  ai cho mình ?
 
–          Mà này , mẹ  còn có cái này …
 
Mẹ tôi lúi húi  gỡ cuộn khăn  đen trên đầu , nặn  ra hai cái hoa tai xanh xanh vàng vàng đưa cho chị . Chị tôi phát cáu .
 
–          Này thì làm được cái gì ! – Nói rồi chị cầm lấy những ngón tay mẹ  tôi gập lại ,đôi  hoa tai tội nghiệp nằm chặt trở lại trong  lòng bàn tay bà.
 
Mẹ tôi hơi chựng người  , ánh mắt mẹ như ngỡ ngàng vì đứa con gái  lấy chồng  đi xa từ sớm . Mắt mẹ long lanh chớp  chớp  bất chợt gặp ánh mắt tôi đang nhìn bà . Mẹ cúi xuống , bẽn lẽn  gói  đôi hoa  tai cũ kỹ  mà mẹ giữ  gìn từ ngày bố mẹ cưới nhau gần như không họ không hàng …
*
Anh tôi rồ máy  chiếc honda 67 phóng   ngược về phía  phi trường Biên hòa. Dáng  áo bay  nổi bật lên trong dòng người hỗn độn . Nhìn theo anh , tôi  không cầm được nước mắt . Ra là anh đã rời phi trường cấp tốc , áo bay , súng ống còn vắt cả trên người   khi nghe bảo rằng bố con tôi tử thủ  nơi căn nhà  đầy kỷ niệm . Anh  tôi vượt ngược dòng người đang như thác lũ , phóng xe vào vùng  đất  đã báo động  chiến sự sắp xảy ra trong gang tấc giữa bầu trời mịt mù khói pháo ven  rừng chiến khu D . Giờ này anh  lại phóng đi  với những chuyến bay  bất định , chơi vơi lời ca lãng mạn của đời phi công  ra đi không tìm xác rơi . Giá chi anh tôi  giống như người anh cả , khí khái ngang tàng coi trời bằng vung … sẽ không làm  cho bố mẹ tôi  hằng đêm thổn thức , đàng này , anh tôi  hiền lành  và đơn sơ  quá đỗi…
 
Cực kỳ vất vả  chiếc xe tải mới bò đến được cầu Sài gòn . Xe nhích từng bước một .  Lính  trên cầu đủ mọi  thứ binh chủng , kể cả nhân  dân tự vệ  với cạc- bin . Không khí sắt máu  sát rạt .Anh rể tôi mặc quân phục với  giấy chứng thực đặc biệt của Căn cứ  Long Bình , xin  đường để qua cầu . Một người lính mặc đồ đen  đeo khẩu súng rất lạ yêu cầu mở cửa xe tải. Cửa mở , tôi và ba con chó ôm nhau sát ngay cửa , bên cạnh là mẹ và chị tôi . Người lính nhìn vào khoang xe  rồi nhìn tôi , cuối cùng là nhìn ba con chó. Ông lấy tay cầm lấy tai của con chó bé nhất . Con chó  không hề sợ cũng không hề làm dữ , ngẩng mặt lên liếm láp bàn tay xương xẩu  đen  đủi đầy mồ hôi của người lính đặc biệt  . Tôi im lặng không nói gì , phó mặc số phận đưa đẩy  theo gia đình . Bỗng một loạt  đạn bắn  chiu chíu từ phía  mặt sông thốc lên  vọt qua sát mí nóc xe . Người lính lạ nhảy xuống  hô kéo bửng cửa rồi  chạy  trước  xe nhà tôi  tay vẫy vẫy cho xe vượt lên trước hàng trăm xe khác.
 
Tôi ngạc nhiên đứng hẳn lên  nhìn  ông  và  nhìn dòng người hỗn độn  kéo dài ngút ngàn tận chân trời  . Ai cũng muốn đẩy những hàng rào dã chiến  lộn xuống sông để có thể dễ dàng băng ngang  cầu Sài gòn . Lúc này , dưới đường , hầu hết mọi ngươì đều nghĩ  nếu ở lại bên này cầu  Sài gòn (  phía Vũng tàu , Biên hòa ) thì sẽ  thuộc về quân đội giải phóng  , tức cộng sản .Nếu qua được cầu  ở về phía Sài gòn  tức đương nhiên  là ngươì Quốc gia , tự do . Ai cũng  lăm lăm  muốn tràn  qua cầu  nhưng trước những khuôn mặt thép lạnh   không biết đâu là binh chủng ,tay lăm lăm  những thứ  vũ khí chết người , không ai dám liều mạng hất  các hàng rào dã chiến . Không khí này là không khí tử chiến , bất kỳ một hành động quá khích nào cũng đều sẽ nhận hậu  quả tàn khốc . Tôi thấy nhiều người lính  vừa thủ súng  vừa cầm  cái radio to bằng cỡ hơn  bàn tay , để ở một bên tai với chiếc cần enteen   kéo cao hết cỡ .  Chắc là  nghe đài ngoại  quốc . Mặt người nào cũng  toả ra đầy  sát khí .
 
Xe nhà tôi qua cầu Sài gòn , Cầu Sài gòn như một nút thắt cổ chai   kinh khủng , chỉ cần qua hết cầu là có thể dễ dàng đi lại . Xe  chúng tôi nhắm về  phía Hóc Môn , Trung Lương .
 
Sáng 28.4  gia đình tôi  vào tới  sát căn cứ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung , tá túc tại một xứ đạo qui tụ  rất nhiều người  cộng giáo gốc Kiến an Hải Phòng . Xứ đạo có tên Chợ Cầu . Ðây là một xứ đạo có cấu trúc  các khu nhà ở gần  giống như các gia đình nơi các khu trại gia binh . Tôi sống quen  với không gian rộng từ  ngày bé tí nên  không thể nào chợp mắt được trong hoàn cảnh này . Ba con chó  từng bước không rời cậu chủ nhỏ  nên cũng làm phiền cho chủ nhà đã có lòng cho gia đình tôi tạm trú . Mọi chuyện  xảy ra  quá nhiều ngỡ ngàng . Khung cảnh lạ ! Con ngươì lạ ! Những người chung đụng chất đống với nhau cũng mỗi người mỗi ý . Ðời sống tỵ nạn  chiến tranh  đây là lần đầu  tôi  phải chịu đựng. Tuổi 15  nội tâm sớm , vơí tôi , đây là cú sốc  rất nặng .  Ngay đêm đầu tiên , tôi khóc thầm  và  trách sao mình đã bỏ nhà  bỏ làng mà đi . Nơi ấy , có chết cũng  thích hơn là tù túng  kiểu này  .
 
 28 . 4  .Buổi trưa nghe nhiều người bàn tán về  chuyện ông Trần văn Hương từ chức , trao quyền  lại cho ông Dương văn Minh . Bên hàng xóm , tôi nghe nhiều  cuộc trò chuyện  bảo rằng chắc chắn sẽ mất  miền nam vào tay miền bắc vì ông Dương văn Minh có an hem ruột  cũng là cấp tướng quan trọng  phía quân đội miền bắc . Tôi  còn nhỏ quá , chỉ nghe , lo sợ về  một ám ảnh Cải Cách Ruộng Ðất mà  tôi vẫn thường nghe . Lúc này , khái niệm mất nước  tôi thực sự chưa  hiểu  cảm được .
 
Buổi chiều tối , trên bầu trời  xuất hiện những chiếc A37 bay và dội bom xuống một số nơi . Nhiều người tập trung bên các  sân rộng ngước mặt xem và bàn cãi .  Nhiều ngươì bảo  không quân phía bắc đã tràn  vào Sàigòn . Tôi  thốt lên  “Ðây là A37 , là  phản lực của mình không phải của VC …” Anh rể tôi đứng phía sau   mắng át “  Thằng tài lanh , biết gì mà  nói leo …”! Tôi im lặng đi ra  một  bờ ruộng rau muống , ngồi  nhìn lên bầu trời  có những chiếc A37  đang vần vũ. Lòng  hoang mang  và lo sợ cho anh tôi . Ðời phi công chiến đấu , giờ này không biết anh tôi  trôi dạt phương nào , có liên quan gì đến  những chuyện  nổ bom  kia không  …
 
Ngày 29 .4 .Một ngày thật khó tả đối với tôi. Khu xóm bình dân  không mấy ai biết nhiều để tôi có thể nghe  được những câu chuyện mà cảm giác của tôi là rất quan trọng . Nơi đây tôi không có những người lính dạn dày sương gió , vừa đờn ca lại vừa có những lúc nói cho tôi những câu chuyện  xa xôi của  người lớn . Không có những tiếng đàn khắc khoải và những câu chuyện  của Ðài Gươm Thiêng Ái Quốc mà tôi  bị cuốn hút  một cách khó hiểu từ  năm 13 tuổi .Không có những buổi sáng tan lễ về , bàn  chè  thuốc lào  bên nhà bác Báu hàng xóm lúc nào cũng có những người lính dân vệ  với ông  giáo Tân , với ông Chử Cogivina… bàn chuyện thời sự  . Ðứa bé  sớm nghe chuyện can qua ngày càng thấy  hụt hẫng và lạc lõng .
 
Ðêm 29.  Các đơn vị tăng của quân chính qui cộng sản tiến  vào Sài gòn  ngang qua  căn cứ  huấn luyện . Cơ man nào là các làn đạn bắn ra từ trung tâm huấn luyện , đặc biệt là  M72 , một lọai hỏa tiễn cầm tay  chống tăng . Rất nhiều phát đạn bắn hụt xe tăng  và bay sát các nóc nhà ở xứ đạo này. Tôi vốn đã quen với  pháo kích từ ngày nhỏ  nên không cảm thấy nao núng , nhưng  những người chung quanh thì mặt cắt không còn giọt máu .
 
30.4  Ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng . Người hàng xóm  mở radio khá lớn và ra bờ  giếng  sau nhà ngồi một mình . Tôi từ trong khoảng tối của căn buồng hẹp chăm chú quan sát  ông . Mấy  hôm nay tôi không thấy ông này , tuổi khoảng 40 mặt rắn rỏi tóc húi cua . Ông ngồi  bên gờ bờ giếng , mặt cúi xuống  , hai vai gồ cao . Tôi thấy vai ông rung lên .
 
Chung quanh mọi người không ai hớn hở , vài người  thì thào vơí nhau về  mấy anh chàng trốn lính , giờ chạy ra  vẫy cờ mừng hòa bình .
 
Tôi thật sự cô độc .  Không có  bất cứ sự chia sẻ nghiêm túc nào  đến được với tôi.
 
Sáng mồng 1.5 tôi  đi một mình ra căn cứ  Quang Trung . Trên đường  vài ba chiếc tăng T54 cháy rụi nằm bổ ngửa . La liệt quần áo lính vứt ngổn ngang .  Tôi đến sát cổng quân trường , mấy người bộ đội  áo quần xanh lụng thụng dép râu ,mình còn cài lá ngụy trang  , răng mặt vàng  lườm… bắt tôi đứng lại , không đưọc đến sát cổng  vì đoàn phim đang quay . Tôi nhìn theo hướng tay chỉ  và thấy  một  đoàn khóa sinh tân  binh từ trong  Trung Tâm đi ra . Tất cả đèu phải đứng lại trước  các máy quay phim , khi được lệnh từ  phía sau máy thì  từng người cúi  xuống lột  hết giày và quần áo  lính , chỉ mặc độc mỗi quần lót . Những đoàn lính bộ đội đứng bảo vệ  hai bên đường  đa phần là cười  cợt khoái chí , một số ít  thay vì cười cợt sảng khoái thì quay sang nói chuyện với những người dân hai bên đường  (đa phần là phụ nữ đã sồn sồn ) . Có những  câu hỏi  và trả lời khắc mãi  trong lòng tôi  mà sau này nhiều người lấy đó làm chuyện hài hước .  Với tôi , ngay lúc bấy giờ , tôi không thể cười được .  Có cô hỏi .
 
–          Sao anh trẻ thế ?
 
–          Trẻ gì nữa . Mười sáu mà còn trẻ .
 
Người thiếu phụ đang cầm que kem , hỏi anh bộ đội .
 
–          Anh thích ăn cà -rem không ?
 
–          Không ?
 
–          Thế hà nội có cà -rem không?
 
–          Có .Khối gì . Còn phơi  để dành nữa .
 
–          Hà nội có Tivi không ?
 
–          Khối gì . Chạy đầy đường .
Những người bộ đội nói âm chữ “l” và “n”   lung tung lộn xà ngầu làm nhiều  bà nhiều cô rất thích thú  nên câu chuyện thường kéo rất dài . Ngay buổi chiều  mồng 1.5 , những câu chuyện  “ cà rem phơi khô “ , “ tivi chạy đầy đường “đã được truyền  tụng một cách  nhanh như tên bắn khắp hang cùng ngõ hẻm của Sàigòn.
 
Buổi  trưa anh tôi  chạy xe về  nhà tạm trú , vẫn mặc đồ bay , cây ru -lô  trái khế  đeo  lủng lẳng bên đùi . Bà chủ nhà xanh mặt . Ông anh rể  tôi  mặt như đổ chàm . Tôi vui mừng vì thấy lại được anh mình , hoàn toàn chưa biết  lo sợ chuyện tù đày hoặc có thể  bị giết của  ông . Anh tôi vào nhà tháo  giày , thay quần áo , dấu khầu súng ngắn  lên máng xối rồi lên xe đi ngay  về Biên hòa. TRong  giờ trao đổi ngắn ngủi với chị tôi , tôi nghe anh bảo .
 
–           Chị đã có gia đình , Thành nó còn quá nhỏ  mà thày mẹ lại đã già . Thôi em ở lại , chắc cũng không đến nỗi nào đâu .
 
–          Thế mấy đứa  nó có đi được không ? – Chị tôi hỏi về mấyb đứa  cháu con ông  anh họ , là dân biểu .
 
–          Có , em đẩy nó  lên được một chuyến bay…
 
Mẹ tôi  không nói gì nhưng thường nhìn lén theo sau lưng anh tôi , ánh mắt  bà hoang vắng lạ lùng một cách khó hiểu .
 
Mãi ba bốn năm sau , tôi mới hiểu được ánh mắt ấy  của người mẹ đã sinh ra mình . Người đàn bà không một con chữ nhưng có cả một bầu trời ca dao . Người đàn bà  toàn những thằng con trai lao tù hoặc chết thảm cho những lý tưởng xa vời .
 
 
12.4.2014 paris 
Phạm Thành
 

 

This entry was posted in Truyện Ngắn, Văn Học and tagged . Bookmark the permalink.

Comments are closed.